Ảnh toàn cảnh về nhà máy. Bao gồm khu nguyên liệu, lò cao, nhà xưởng và văn phòng điều hành...


Hệ thống làm mát và xử lý nước thải của dây chuyền sản xuất.


Khu tập kết nguyên liệu phục vụ cho dây chuyền sản xuất.

Slide 1

Phòng kỹ thuật và hệ thống điều hành tự động của nhà máy.


Cổng chính của nhà máy.

j

Cận cảnh quá trình sản suất quặng.

Slide 1

Khu lò thiêu kết và phía sau nhà máy.

 


Khay chứa sản phẩm mới ra lò .


Quá trình hình thành sản phẩm .

Khai thác đất hiếm: Mừng và lo

Ngày 12-06-2012

Việt Nam đứng thứ ba thế giới về trữ lượng đất hiếm nhưng việc khai thác và chế biến đất hiếm có nguy cơ gây ô nhiễm rất cao với môi trường và độc hại cho con người. Chọn Nhật Bản làm đối tác hợp tác khai thác cho Việt Nam cơ hội mở cánh cửa kho báu, nguồn tài nguyên quý giá đem lại nguồn lợi lớn cho đất nước.


Ảnh minh họa ( nguồn: Internet)

Đất hiếm là loại đất chứa nhiều nguyên tố hiếm. Những loại nguyên tố này được phân bố rải rác không tập trung. Từ đó, việc khai khoáng, phân tách để lấy được các nguyên tố là khó khăn và tốn kém. Từ đó người ta gọi tên chúng là đất hiếm. Đất hiếm gồm có 17 nguyên tố, đều là những nguyên tố dạng hiếm có trong bảng tuần hoàn Mendeleev như: Dysprosium (Dy), Erbium (Er), Europium (Eu), Gadolinium (Gd), Holmium (Ho), Lutetium(Lu), Terbium (Tb),...

Đất hiếm đã trở thành loại nguyên liệu tối cần thiết cho nhiều ngành công nghiệp mũi nhọn của các quốc gia phát triển. Nó được sử dụng trong nhiều công nghệ cao cấp như: từ máy tính xách tay, điện thoại di động đến xe hơi hybrid…; từ ngành vô tuyến, hàng không, cho tới chế tạo ô tô; từ công nghệ laser đến việc sử dụng làm chất xúc tác trong công nghệ lọc hóa dầu... Đặc biệt là chúng có nhiều tính chất kỳ diệu khi kết hợp với những nguyên liệu thông thường khác. Chẳng hạn, Europium biến tivi đen trắng thành tivi màu, Erbium giúp cáp quang truyền dữ liệu nhanh và xa hơn. Một số nguyên tố trong đất hiếm được dùng để sản xuất nam châm có kích thước nhỏ nhưng mạnh dành cho ô tô; sản xuất ổ đĩa máy tính, máy phát điện, động cơ và cả hệ thống dẫn đường cho tên lửa. Nhiều nguyên tố khác có tác dụng làm tăng khả năng chịu nhiệt của các cánh quạt trong động cơ phản lực và làm tăng độ sáng của các ống nhòm hồng ngoại dùng để quan sát trong đêm…

Trước đây từ những thập niên 60-80 của thế kỷ trước, Mỹ là quốc gia đứng đầu thế giới về sản xuất đất hiếm. Tuy nhiên, sau đó vị trí này được chuyển sang Trung Quốc. Lý do vì chi phí sản xuất tại Trung Quốc rẻ và các quy chuẩn về vấn đề môi trường không chặt chẽ, gắt gao như được đưa ra tại các nước như Mỹ.

Hiện tại trên thế giới, các quốc gia có đất hiếm như: Trung Quốc (27 triệu tấn, chiếm 30,6% của thế giới), Mỹ (13 triệu tấn, chiếm 14,70%), Australia (5,2 triệu tấn), Ấn Độ (1,1 triệu tấn), Brazil (0,84 triệu tấn)… Tổng trữ lượng tài nguyên đất hiếm toàn cầu ước tính là 99 triệu tấn, sản lượng khai thác hàng năm là khoảng 125.000 tấn.

Đất hiếm ở Việt Nam (khoảng 17 - 22 triệu tấn) phân bổ chủ yếu ở 5 khu vực thuộc Tây Bắc gồm các tỉnh Lai Châu, Lào Cai và Yên Bái. Tại miền Trung thì cũng có đất hiếm, nhưng chỉ dọc theo ven biển và chủ yếu nằm trong sa khoáng nên trữ lượng không lớn lắm. Lâu nay nước ta cũng có khai thác đất hiếm nhưng công nghệ còn lạc hậu, chủ yếu sử dụng phương pháp thủ công và dẫn đến tổn thất tài nguyên lớn (có những mỏ tổn thất tới 60%), công suất thấp, không tách được hết thành phần nguyên tố hiếm; Việt Nam cũng đã nghiên cứu sử dụng đất hiếm trong các lĩnh vực nông nghiệp, chế tạo nam châm vĩnh cửu, chế tạo hợp kim gang, thép, thủy tinh, bột màu... nhưng vẫn chỉ dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm hoặc qui mô nhỏ.

Hiện nay, Trung Quốc là nước khai thác nhiều nhất, với sản lượng 120.000 tấn mỗi năm, chiếm 97% thế giới. Đất hiếm thật ra không hiếm, nhưng sở dĩ chúng “hiếm” vì công nghệ khai thác và xử lý rất đắt, thậm chí nguy hiểm bởi yếu tố rủi ro rất cao, khả năng gây ô nhiễm trầm trọng cho môi trường vì quặng đất hiếm thường xuất hiện gần các lớp trầm tích có chứa các chất phóng xạ chẳng hạn như thorium hoặc uranium... Do Luật Môi trường còn lỏng lẻo cộng thêm lương công nhân rẽ nên công nghiệp khai thác đất hiếm Trung Quốc cho ra những sản phẩm có giá thành thấp. Do vậy, phương Tây và Nhật lâu nay “nhường sân” khai thác đất hiếm cho Trung Quốc và chấp nhận phụ thuộc mặt hàng chiến lược này, họ sẵn sàng mua nguyên liệu thô giá rẻ để sản xuất ra các sản phẩm công nghệ cao bán lại cho Trung Quốc với giá trị tăng gấp nhiều lần. Một bước đi hết sức thông minh.

Nhưng giờ đây, Trung Quốc đã nhận thức được tầm quan trọng của đất hiếm, nhận thấy được sự tác hại đến môi trường khi khai thác đất hiếm bằng công nghệ lạc hậu nên bắt đầu từ 2012 sẽ ngừng xuất khẩu đất hiếm. Hệ quả là đất hiếm sẽ “hiếm”, giá cả sẽ tăng cao, đó là cơ sở để các nước có nền sản xuất các sản phẩm công nghệ cao như Nhật, Mỹ… khẩn trương tìm nguồn thay thế. Đó chính là “cơ hội vàng” đã đến với nước ta và Nhật là nước tiên phong đến với Việt Nam.

Nước ta có cả hai dạng mỏ đất hiếm: Thứ nhất, dạng mạch đá trong nền đá cổ ở Sơn La, Lai Châu, Yên Bái và trong các dải cát đen ven biển ở miền Trung. Thứ hai, mỏ Đông Pao đến nay được xem là lớn nhất nằm trên địa phận xã Bản Hom, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Mỏ Đông Pao bao gồm trên 30 thân quặng lớn nhỏ đã được tìm kiếm tỉ mỉ với tài nguyên trữ lượng đạt trên 10,6 triệu tấn R2O3; 34,7 triệu tấn CaF2; 66,7 triệu tấn BaSO4. Hiện tại, mới chỉ tiến hành khai thác quặng fluorit với sản lượng hàng năm khoảng 1.000 tấn CaF2 cung cấp cho luyện kim.

Hoạt động khai thác đất hiếm ở Việt Nam đã được tiến hành từ những năm 70 của thế kỷ trước và nước mua lại khoáng sản thô được khai thác từ trong lòng đất này của Việt Nam là Cộng hòa Séc và Ba Lan. Việc khai thác mới dừng lại vào khoảng năm 1985. Lúc đó họ khai thác và lấy quặng của mình về để làm gì mình không hề biết, chế biến thế nào mình cũng không biết.

Vì thế, việc chọn Nhật Bản làm đối tác hợp tác khai thác nguồn khoáng sản quý hiếm này mở ra cơ hội lớn cho Việt Nam nhưng bên cạnh đó cũng ẩn chứa rủi ro lớn.

Việc khai thác, chế biến đất hiếm có nguy cơ gây ô nhiễm hơn là khai thác các loại như than đá, dầu mỏ rất nhiều. Vì chế biến đất hiếm phải dùng nhiều loại hóa chất có ảnh hưởng đến môi trường. Ngoài ra, trong đất hiếm có những khoáng chất mang tính phóng xạ với cường độ cao hơn những loại phóng xạ khác; tức chứa đựng hai nguy cơ: ô nhiễm hóa chất và ô nhiễm phóng xạ.

Việc khai thác đất hiếm đặt ra yêu cầu bảo vệ môi trường và sức khỏe nguời dân một cách phải nghiêm túc. Dung hòa hai điều này là một thách đố lớn đối với nhà nước. Tuy nhiên, việc khai thác đất hiếm sẽ không gay cấn như việc khai thác bauxite Tây Nguyên. Lý do vì khai thác đất hiếm dù sao vùng khai thác không lớn như khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Vấn đề khai thác bauxite ở Tây Nguyên chủ yếu không nằm trong vấn đề kỹ thuật (cơ bản), trong vấn đề bảo vệ môi trường, mà nằm trong vấn đề bảo vệ Tổ quốc.

Thêm nữa, mặc dù được chủ đầu tư phía Nhật Bản hứa hẹn, cam kết về công nghệ tiên tiến sẽ được sử dụng trong quy trình khai thác; môi trường sẽ được đảm bảo an toàn, không làm nguy hại đến sức khỏe cộng đồng; mặc dù cơ quan chủ quản công bố mục tiêu của dự án không nhằm xuất khẩu nguyên liệu thô... nhưng sự kiện bùn đỏ ở Bulgari và gần đây nhất là vụ lũ bùn ở Cao Bằng đã “được” Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) nhận trách nhiệm, cho thấy tất cả đều đang ở trước mắt.

Vì thế, công cuộc khai thác và chế biến đất hiếm vừa mừng lại vừa lo./

 

toquoc.vn